Ong dú thuộc nhóm ong không ngòi đốt, có mặt ở hầu hết vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới: Đông Nam Á, Nam Á, châu Phi, Trung và Nam Mỹ, bắc Úc. Loài khác nhau, tổ khác nhau, nhưng gần như loài nào cũng có chung một nét: chúng không xây tổ bằng sáp thuần mà bằng sáp pha nhựa cây. Hiểu đúng mấy cái tên gọi của thứ vật liệu này giúp người nuôi đọc tài liệu nước ngoài không bị lẫn, và nói chuyện với người mua cho rõ ràng.
Nếu cắt ngang một tổ ong dú trong hốc cây, sẽ thấy vật liệu được dùng theo từng lớp, mỗi lớp một việc. Tài liệu quốc tế đặt tên riêng cho từng phần:
| Tên gọi quốc tế | Cách gọi quen ở Việt Nam | Nằm ở đâu | Làm nhiệm vụ gì |
|---|---|---|---|
| Cerumen | Sáp ong dú, sáp đen | Khắp tổ | Vật liệu nền để xây mọi thứ |
| Involucrum | Màng bọc, vỏ bọc ổ trứng | Quanh khu ấu trùng | Giữ ấm, giữ ẩm cho nhộng |
| Storage pots | Bầu mật, bầu phấn | Quanh khu ấu trùng | Chứa thức ăn |
| Batumen | Lớp trám, vách chắn | Ranh giới tổ với hốc cây hoặc thùng | Cách ly, chống kiến, chống nước |
| Entrance tube | Ống cửa, miệng tổ | Phía ngoài | Lối ra vào, chỗ ong gác |
| Resin deposits | Cục keo, ụ nhựa | Bám vào vách | Kho nhựa dự trữ để sửa tổ |
Ong mật xây bánh tổ lục giác bằng sáp gần như tinh khiết, màu trắng ngà khi mới làm. Ong dú cũng tiết sáp nhưng ít hơn nhiều, nên chúng trộn với nhựa cây để có đủ vật liệu. Kết quả là sáp ong dú:
Vì thành phần thay đổi theo cây quanh tổ, sáp ong dú ở mỗi vùng mỗi khác. Tổ ở rừng thông có mùi nhựa thông, tổ ở vườn xoài có mùi khác hẳn. Đây là chỗ thú vị khi so sánh tổ giữa các nơi trên thế giới: cùng một kiểu vật liệu, nhưng mỗi vùng mang dấu ấn cây cối riêng.
Ba chữ hay bị dùng lẫn nhau:
Là nhựa cây đàn mang về và tích lại, chưa trộn nhiều sáp. Ở tổ ong dú, keo thường đọng thành cục, ụ dính trên vách. Người nuôi có thể thu một ít khi vệ sinh thùng.
Là hỗn hợp đã trộn sáp, dùng để xây. Khi thu, người ta thường nấu lọc để lấy phần sáp dùng làm son dưỡng, nến hoặc bôi thùng mới.
Là nhựa trộn thêm đất sét hoặc cát. Một số loài dùng nhiều thứ này ở lớp trám ngoài cùng. Nếu thấy lớp vách sần, nặng, màu đất, thì nhiều khả năng đó là geopropolis.
Các nhà nghiên cứu ong không ngòi đốt hay giải thích bằng mấy lý do chung. Nhựa cây dính, nên kiến và côn trùng nhỏ khó bò qua — rất quan trọng với loài không có ngòi để tự vệ. Nhựa không thấm nước, giúp tổ khô ráo trong khí hậu mưa nhiều. Nhựa cũng cứng hơn sáp, chịu được nhiệt độ cao vùng nhiệt đới mà không chảy mềm. Cuối cùng, ong dú tiết sáp ít, nên nhựa là cách tiết kiệm sức.
Đó cũng là lý do người nuôi ở bất cứ đâu đều khuyên giống nhau: hạn chế mở thùng, vì mỗi lần mở là phá lớp vật liệu đàn đã tốn công làm. Muốn biết thêm về sự khác nhau giữa các loài, xem mục Các loài ong dú trên trang.
Ở Việt Nam, sáp ong dú sau khi lọc sạch thường được dùng để bôi thùng mới giúp đàn quen mùi, hoặc làm các sản phẩm thủ công như son dưỡng môi. Trại Ong Quý ở Trảng Bàng, Tây Ninh nuôi ong dú thùng, có mật ong dú, tổ giống và một số sản phẩm từ sáp ong dú — xem tại ongquy.com nếu muốn tận tay cầm thử thứ vật liệu mà bài này nói tới.
Cerumen là từ tiếng Latin dùng trong tài liệu khoa học, chỉ hỗn hợp sáp và nhựa cây mà ong không ngòi đốt dùng xây tổ. Ở Việt Nam thường gọi là sáp ong dú.
Không. Màu sẫm là do nhựa cây và đất trộn vào. Sáp ong dú vốn sẫm hơn sáp ong mật.
Nguyên tắc giống nhau: dùng sáp pha nhựa, làm bầu chứa thức ăn. Hình dạng cửa tổ và cách xếp khu ấu trùng thì mỗi loài một khác.
Thu ít, chỉ lấy phần ụ dư thừa khi vệ sinh thì không sao. Không nên cạo lớp trám đang bảo vệ tổ.
Có, nhưng sáp ong dú mềm và nhiều nhựa hơn sáp ong mật nên cháy khác; người ta thường pha trộn khi làm.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Ong không ngòi đốt sống khắp vùng nhiệt đới với hàng trăm loài, từ châu Mỹ, châu Phi tới Úc và Đông Nam Á. Ong dú Việt Nam nằm ở đâu trong bức tranh đ
Ong dú không phải một loài mà là cả một họ ong không ngòi đốt. Cách chia thành ba nhóm nhìn được bằng mắt, vì sao một loài trông như hai, và bài tập b
Mỗi vùng Việt Nam có đàn ong dú hợp khí hậu riêng. Ba nguồn để tự xác định loài bản địa nơi mình ở: tổ hoang quanh vùng, người nuôi lâu năm và đặc điể
Loài to có nhiều mật hơn? Loài nhỏ có yếu hơn? Năm hiểu lầm phổ biến khi so sánh các loài ong dú theo kích thước, kèm bảng so sánh và cách chọn loài t
So sánh cấu trúc tổ ong dú với ong mật, ba kiểu nhà thường gặp trong thế giới ong dú, và cấu trúc tổ quyết định chọn thùng, lấy mật, giữ mật ra sao.
Ong dú thuộc nhóm ong không ngòi đốt với hàng trăm loài khắp vùng nhiệt đới. So tập tính giữa các nhóm loài để hiểu điểm chung, điểm riêng và áp dụng
Ong dú trên thế giới và ở Việt Nam: các chi loài chính, phân bố toàn cầu, cách nuôi ở Úc, Brazil, Malaysia so với Việt Nam, lịch sử thuần hoá. Góc nhìn rộng, mang tính tham khảo và mở mang.