Hỏi người mới về lần tách đàn đầu tiên, câu trả lời thường xoay quanh buổi sáng cầm dao. Thực tế, buổi sáng đó chỉ chiếm vài chục phút trong một quá trình kéo dài gần hai tháng. Phần lớn thành bại nằm ở tuần chuẩn bị trước và những tuần chờ sau.
Dưới đây là một lịch theo mốc. Thời gian cụ thể dao động theo loài ong dú, theo thời tiết và sức đàn, nên hãy coi đây là khung để tự điều chỉnh, không phải hạn chót.
Để mọi thứ vào một chỗ. Sáng hôm sau không phải tìm đồ trong lúc thùng đang mở là đã bớt được một nửa sự lúng túng.
| Khoảng thời gian | Việc nên làm | Điều đáng lo |
|---|---|---|
| Ngày 1–3 | Đứng xa nhìn cửa tổ, kiểm chân kệ có kiến không | Kiến kéo đàn, mật rỉ ra ngoài thùng |
| Tuần 1 | Nhìn lưu lượng ra vào mỗi ngày vài phút | Một bên gần như không có ong ra vào |
| Tuần 2–3 | Xem ong có mang phấn về và có trét nhựa cửa không | Ấu trùng hoặc xác ong bị lôi ra nhiều |
| Tuần 4–6 | Có thể hé nắp nhìn nhanh phần không chúa | Không thấy ô ấu trùng mới nào |
| Tuần 6–8 | Đánh giá cả hai đàn, ghi kết quả | Đàn con ngày càng thưa ong |
Phần không chúa phải nuôi một ấu trùng non thành chúa, chúa mới phải trưởng thành, ra ngoài giao phối, rồi mới bắt đầu đẻ. Trong suốt thời gian đó không có trứng mới, nên nhìn vào thì tổ như đứng yên. Mở thùng ra kiểm không làm nhanh hơn, ngược lại còn làm đàn mất nhiệt, mất mùi tổ và dễ bỏ ô chúa. Đây là chỗ người mới hay vấp nhất: không chịu được cảm giác không biết.
Mỗi loài ong dú có tốc độ khác nhau, đàn nhỏ và đàn lớn cũng khác. Ai nuôi nhiều loài thì nên ghi lịch riêng cho từng loài; tìm hiểu đặc điểm từng loài ở chuyên mục Các loài ong dú.
Qua mốc tám tuần mà phần không chúa vẫn không có ô ấu trùng mới, ong thưa dần, thì gần như đàn đó không gây được chúa. Có thể hợp nó lại với đàn mẹ hoặc một đàn khác để không phí số ong còn lại. Lần đầu không thành không phải hiếm; điều quý là cuốn sổ ghi lại từng mốc, để lần sau biết mình sai ở đâu. Thêm kinh nghiệm cho các lần sau ở chuyên mục Nhân đàn.
Lịch trên dễ đọc nhưng khó hình dung nếu chưa từng thấy một tổ mở. Trại Ong Quý ở Trảng Bàng, Tây Ninh nuôi ong dú giống và làm mật ong dú, hộp quà mật, son dưỡng môi từ sáp ong dú; trại có tour học thực hành để người mới xem tận tay một lần tách đàn trước khi tự làm với tổ của mình.
Nếu chia đều bọng mật thì thường không cần. Đổ mật vào thùng dễ thu hút kiến và ruồi hại, nên chỉ cân nhắc khi bên ngoài thật sự thiếu hoa kéo dài.
Ong thợ đi làm quay về vị trí quen. Đó là lý do nhiều người đặt phần cần thêm ong vào chỗ thùng cũ. Sau vài ngày đường bay sẽ ổn định.
Không phải thảm hoạ, nhưng nên đóng lại thật nhanh và đừng lặp lại. Mỗi lần mở là một lần đàn phải ổn định lại.
Lúc ngoài trời nhiều hoa, ít mưa, nhiệt độ không quá lạnh. Mỗi vùng mỗi khác, nên quan sát xem tháng nào ong ở chỗ mình đi làm mạnh nhất.
Ngày tách, đàn mẹ, thời tiết, lưu lượng cửa tổ mỗi tuần và lần đầu thấy ô ấu trùng mới. Chừng đó đủ để rút kinh nghiệm.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Ong bu đen cửa thùng, thùng đã đầy, tách để kích đàn yếu: năm niềm tin truyền miệng về thời điểm tách đàn ong dú và đàn đủ sức thật sự trông ra sao.
Tách đàn ong dú không chỉ có một cách. So sánh ba lối làm phổ biến: chia đôi, tách nhánh nhỏ và thùng chồng tầng, kèm ưu nhược điểm và kiểu người nuôi
Tách đàn ong dú là chia đôi một gia đình: nửa giữ chúa đi đường ngắn, nửa tự gây chúa đi đường dài. Hiểu hai con đường này để theo dõi đúng mốc và khô
Lộ trình năm năm để nhân đàn ong dú vững chắc: năm đầu chỉ nuôi và quan sát, năm hai tách thử, năm ba bốn mở rộng có chừng mực, năm năm ổn định số tổ
Chọn đàn mẹ để nhân giống ong dú không thể chỉ nhìn cửa tổ. Năm chỗ cần xem khi mở thùng, bảng đối chiếu dấu hiệu, và vì sao phải mở lại vào cuối mùa
Đàn ong dú suy yếu không chỉ có ghép hoặc bỏ. So sánh bốn lựa chọn: để yên, chờ tự gây chúa, tiếp bọng ấu trùng và ghép đàn, kèm cách chẩn đoán để chọ
Ong dú trên thế giới và ở Việt Nam: các chi loài chính, phân bố toàn cầu, cách nuôi ở Úc, Brazil, Malaysia so với Việt Nam, lịch sử thuần hoá. Góc nhìn rộng, mang tính tham khảo và mở mang.